Ta có thể phá bỏ mọi niềm tin để trở về một điểm khởi đầu hoàn toàn không tiền giả định hay không? Bài viết này không cố tìm một nền tảng cuối cùng cho tư tưởng. Nó thử một công việc khiêm tốn hơn: làm rõ những điều ta đang dựa vào, phân biệt mô tả với lựa chọn, và giữ lại những cửa phản hồi để một hệ không thể biến mọi kết quả thành bằng chứng rằng chính nó luôn đúng.
Có một ước muốn rất hấp dẫn:
Hãy bỏ hết mọi niềm tin.
Đừng tin truyền thống.
Đừng tin tôn giáo.
Đừng tin thầy.
Đừng tin xã hội.
Đừng thậm chí tin những gì mình đã từng nghĩ.
Hãy phá bỏ tất cả và bắt đầu lại từ số không.
Thoạt nghe, đó dường như là hình thức triệt để nhất của tự do tư tưởng.
Nhưng có một câu hỏi phải được đặt ra trước:
Ta sẽ dùng cái gì để thực hiện việc phá bỏ ấy?
Muốn nói:
“Tôi sẽ gạt bỏ mọi tiền giả định”,
ta đã phải phân biệt được cái đang được giữ và cái đang bị gạt bỏ.
Muốn nói:
“Tôi sẽ nghi ngờ tất cả”,
ta đã phải có một điều gì đó để nghi ngờ, khả năng phân biệt nghi ngờ với tin tưởng, và một mức ổn định đủ để sự nghi ngờ vừa xảy ra còn có quan hệ với suy nghĩ tiếp theo.
Muốn nói:
“Tôi sẽ bắt đầu lại”,
ta đã phân biệt trước với sau.
Ngay cả:
“Tôi tạm gác mọi phán đoán”
cũng vẫn là một thao tác có chủ đích: có cái được tạm gác, có việc tạm gác, có sự phân biệt giữa tiếp tục phán đoán và chưa phán đoán.
Nói cách khác:
Hành động xóa bảng đã xảy ra trên một cái bảng nào đó.
Điều này không chứng minh rằng mọi trạng thái tâm khả hữu đều phải có ngôn ngữ, khái niệm hay suy luận.
Có thể tồn tại những trạng thái kinh nghiệm không vận hành theo cấu trúc ấy.
Bài này không cần phủ nhận chúng.
Phạm vi ở đây hẹp hơn.
Một khi ta bắt đầu:
phân biệt;
so sánh;
khẳng định;
phủ định;
tạm gác;
đưa ra lý do;
xây dựng một hệ;
hay sửa một hệ,
thì tư tưởng phản tư đã vận hành.
Và một khi tư tưởng đã vận hành như vậy, ta đã ở trong cái Có.
Bài này chỉ làm việc trong phạm vi ấy.
Nó không dùng tư tưởng để định nghĩa Không.
Nó cũng không giả định rằng bằng cách loại bỏ dần mọi khái niệm và mọi điều đang được giữ, tư tưởng có thể đi:
có → ít có hơn → số không → Không.
Chính quá trình loại bỏ ấy vẫn đang diễn ra trong tư tưởng.
Nếu có một Không nằm ngoài phạm vi này, bài để nó yên.
Không phủ nhận.
Không xác nhận.
Không định nghĩa.
Cũng không đồng nhất nó với Không tính, Niết-bàn, Chân đế hay bất kỳ học thuyết nào về thực tại tối hậu.
Câu hỏi của bài khiêm tốn hơn:
Khi đã ở trong cái Có, ta có thể làm gì để những điều mình đang dựa vào khó ẩn mình hơn?
Bài không hứa loại bỏ tự lừa dối.
Nó chỉ thử làm một số cơ chế tự khóa trở nên khó vận hành hơn.
Tư tưởng không bắt đầu từ hư không
Descartes từng thử đưa sự nghi ngờ tới tận nền.
Điều có ích cho bài này không phải ta phải đi theo ông tới một kết luận về cái Tôi.
Ta chỉ cần thấy:
nghi ngờ cũng là một hoạt động.
Nó có đối tượng.
Nó phân biệt.
Nó có phương pháp.
Nó có một hướng đi.
Ngay việc tìm một nền móng tuyệt đối cũng không xảy ra từ hư không.
Nhưng từ đó không được suy ra rằng mọi tri thức phải đứng trên một vài chân lý nền tuyệt đối.
Có thể hình dung tri thức như một tòa nhà.
Cũng có thể hình dung nó như một mạng lưới trong đó các niềm tin nâng đỡ, hạn chế và sửa lẫn nhau.
Bài này không cần giải quyết tranh luận ấy.
Chỉ cần giữ một điểm:
Mạng lưới cũng không phải hư không.
Nó đã là một cấu trúc gồm những quan hệ, phân biệt và thao tác có thể được điều chỉnh.
Toàn bộ mạng lưới thậm chí có thể cùng thay đổi mà không cần một nút bất biến; điều đó vẫn không làm chính hoạt động thay đổi trở thành một điểm xuất phát từ số không.
Đây là giới hạn của luận đề.
Bài không chứng minh mọi tư tưởng phải có một “viên đá nền”.
Nó chỉ nói:
Khi tư tưởng đang phân biệt, sửa, phủ định hay xây dựng, nó đã không còn đứng ở hư không.
Một hệ không chỉ trả lời; nó dạy ta nhìn
Nếu tư tưởng không hoạt động từ số không, một câu hỏi khác xuất hiện:
Những gì nó mang theo ảnh hưởng tới cái được nhìn thấy đến mức nào?
Trường hợp sạch nhất là toán học.
Thay một số điều kiện nền trong hình học, ta có thể đi từ hình học Euclid sang những hình học phi Euclid.
Các kết luận suy ra được thay đổi.
Quan hệ giữa các đường thay đổi.
Tính chất của các hình thay đổi.
Ở mức này có thể nói:
Những điều kiện nền khác nhau mở ra những thế giới hình thức khác nhau.
Nhưng điều đó không có nghĩa không gian vật lý biến đổi tùy hệ hình học ta thích.
Một hệ hình thức trả lời:
Nếu chấp nhận những điều kiện này, điều gì theo sau?
Còn hệ nào mô tả tốt một hiện tượng vật lý cụ thể lại phải quay về quan sát và đo đạc.
Đời sống con người phức tạp hơn.
Một người thức dậy với một cơn đau.
Cơn đau ấy có thể được hiểu như:
một hình phạt;
một dấu hiệu bệnh;
hậu quả của một hành vi;
một biến cố xác suất;
hay đơn giản là một kinh nghiệm chưa đủ dữ liệu để giải thích.
Cơn đau chưa nhất thiết thay đổi.
Nhưng câu hỏi được đặt ra đã thay đổi.
Nguyên nhân được tìm đã thay đổi.
Hành động tiếp theo cũng thay đổi.
Điều đang được giả định không chỉ góp phần tạo câu trả lời.
Nó có thể góp phần quyết định:
Đâu mới là câu hỏi?
Một bác sĩ và một người chưa được đào tạo có thể nhìn cùng một hình ảnh y khoa.
Một người thấy những vùng sáng tối.
Người kia nhận ra một cấu trúc đáng chú ý.
Kiến thức của bác sĩ không tạo ra tổn thương trong cơ thể.
Nhưng nó làm thay đổi cái có thể được nhận ra.
Điểm cần giữ là:
Cách nhìn có thể chịu ảnh hưởng bởi hệ đang được sử dụng, nhưng điều đó không có nghĩa không còn gì ngoài hệ.
Nếu bác sĩ sai, cơ thể người bệnh không có nghĩa vụ phải diễn biến theo lý thuyết của bác sĩ.
Có một sức chống trả mà cách giải thích không toàn quyền kiểm soát.
Ba nghĩa khác nhau của “thế giới”
Có thể phân biệt ba mức.
Ở thế giới hình thức, thay điều kiện nền có thể thay những mệnh đề suy ra được.
Ở thế giới ý nghĩa, thay hệ khái niệm có thể thay cái được nhìn như vấn đề, nguyên nhân hay bằng chứng.
Ở thế giới xã hội, những cách hiểu được chia sẻ có thể đi vào hành động, luật lệ, giáo dục, nghi lễ, quyền lực và thể chế.
Nhưng ba mức này không giống nhau.
Tiền giả định không tùy ý tạo ra xã hội theo ý muốn.
Một xã hội vẫn gặp:
cơ thể;
sinh học;
tài nguyên;
địa lý;
dịch bệnh;
khí hậu;
những chủ thể khác;
và hậu quả từ chính những quyết định của nó.
Vì vậy, chính xác hơn nên nói:
Những điều kiện và tiền giả định khác nhau có thể tổ chức kinh nghiệm thành những thế giới mô tả khác nhau; thông qua hành động, những thế giới mô tả ấy lại có thể góp phần tạo nên những cấu trúc xã hội khác nhau.
Không phải:
tư tưởng tạo ra toàn bộ thực tại.
Một bản đồ không phải lãnh thổ.
Nhưng bản đồ vẫn quyết định ta chú ý tới đâu.
Bản đồ giao thông làm nổi bật đường và nút giao.
Bản đồ địa hình làm nổi bật cao độ, độ dốc và dòng nước.
Không thể hỏi:
“Bản đồ nào tốt hơn?”
mà chưa hỏi:
Để làm gì?
Ngay chữ tốt hơn đã cần một mục tiêu.
Đây là nguyên tắc sẽ chạy xuyên suốt bài:
Mỗi lần nói tốt hơn, hợp lý hơn, hữu ích hơn hay mở hơn, phải có thể trả lời: đối với mục tiêu nào?
Khi một cách nhìn trở thành “cách thế giới vốn là”
Một tiền giả định có thể khởi đầu như một lựa chọn.
Nhưng nếu nó được lặp qua nhiều thế hệ, đi vào luật lệ, gia đình, giáo dục hay tôn giáo, thế hệ sau có thể không còn gặp nó như một lựa chọn nữa.
Đứa trẻ chỉ thấy:
“Mọi thứ vốn là như vậy.”
Đây là một trong những sức mạnh lớn nhất của một hệ.
Không phải lúc nó nói:
“Đây là tiên đề của tôi.”
Mà lúc người sống trong nó nói:
“Tôi chẳng có hệ nào cả. Tôi chỉ nhìn sự vật như nó vốn là.”
Phản ứng tự nhiên có thể là:
Vậy hãy phá hệ.
Nhưng câu:
“Hãy phá mọi khuôn khổ”
khi trở thành một nguyên tắc cũng đã định hướng hành động.
Câu:
“Đừng tin quyền uy”
đã mang một đánh giá về quyền uy.
Câu:
“Hãy sống tự nhiên”
đã mang một cách hiểu về cái gì là tự nhiên và vì sao cái tự nhiên đáng được ưu tiên.
Phá một hệ cũ không bảo đảm ta đã trở về số không.
Phá hệ cũ không có nghĩa không còn hệ
Krishnamurti là một trường hợp hữu ích.
Ông phủ nhận việc chân lý có thể được tổ chức thành một con đường cố định, chống sự lệ thuộc vào quyền uy tinh thần và nhấn mạnh quan sát trực tiếp.
Ta không cần phán quyết ông đúng hay sai.
Cũng không cần nói ông “giấu” tiền giả định.
Câu hỏi hẹp hơn là:
Khi một người phủ nhận con đường, những giá trị nào vẫn đang được dùng để đánh giá?
Ta vẫn có thể thấy:
tự do được coi trọng;
quan sát được coi trọng;
sự lệ thuộc vào quyền uy bị nghi ngờ;
điều kiện hóa tâm lý bị xem như một trở ngại.
Điều đó không làm giáo huấn tự mâu thuẫn.
Nó chỉ nhắc:
“Không có con đường” không đồng nghĩa “không có điều gì đang được giữ.”
Osho cho ta một trường hợp khác.
Trong nhiều truyền thống đạo đức, ham muốn tình dục có thể được xem như một vấn đề phải kiềm chế hoặc vượt qua.
Osho chuyển trọng tâm sang chính sự đàn áp: ông cho rằng việc kết án và dồn nén tình dục có thể tạo chia cắt, ám ảnh và những biểu hiện méo mó trong tâm lý.
Nhưng điều đó cũng không nên được mô tả đơn giản như một sự đảo dấu:
đàn áp là xấu, vậy buông thả là tốt.
Trong chính cách trình bày của Osho, cả đàn áp lẫn buông thả đều có thể trở thành những cực khiến con người tiếp tục bị dục chi phối; ông nhấn mạnh việc đi qua kinh nghiệm với nhận biết và khả năng chuyển hóa.
Điều đáng chú ý đối với bài này là:
Khi hệ thay đổi, vị trí của vấn đề có thể thay đổi.
Một hệ nhìn:
ham muốn là bệnh.
Hệ khác nhìn:
cách con người đàn áp và quan hệ với ham muốn mới là bệnh.
Khi bệnh đổi vị trí, thuốc cũng đổi theo.
Nhưng từ:
“Đàn áp có thể gây hại”
không tự động suy ra:
“Mọi giới hạn đối với ham muốn đều gây hại.”
Cũng như từ:
“Ham muốn có thể tạo hậu quả xấu”
không suy ra:
“Sự xuất hiện của ham muốn phải bị đàn áp.”
Giữa:
đàn áp
và
phục tùng xung lực
còn một khả năng:
Nhìn thấy nó mà chưa vội đồng nhất nó với mệnh lệnh hành động.
Một hệ mới thường có sức mạnh chính vì nó nhìn thấy căn bệnh mà hệ cũ bỏ sót.
Và chính thành công ấy có thể khiến hệ mới khó bị chất vấn hơn.
Thuốc chữa được một căn bệnh rất dễ biến thành:
lý thuyết về mọi căn bệnh.
Cái bóng và ngôn ngữ giải phóng
Trong tâm lý học Jung, Shadow (cái bóng) chỉ những phần của bản thân mà hình ảnh có ý thức không muốn nhận hoặc không nhìn thấy.
Từ đây bài chỉ giữ một ý:
Bản tự thuật có ý thức của một người có thể không bao gồm toàn bộ những động lực đang tác động tới họ.
Một người có thể thật lòng nghĩ:
“Tôi không cần quyền lực”
nhưng phản ứng rất mạnh khi quyền lực bị lấy khỏi mình.
Một người có thể thật lòng nghĩ:
“Tôi chỉ muốn giúp”
nhưng không chịu nổi khi người khác không làm theo.
Không nhất thiết họ đang cố tình nói dối.
Nhưng cái bóng cũng không được biến thành vũ khí:
“Anh phản đối tôi vì cái bóng của anh.”
Nếu người khác đồng ý thì ta đúng.
Nếu phản đối cũng chứng minh ta đúng.
Hệ như vậy đã tự khóa.
Vì thế, cái bóng chỉ nên là một cảnh báo đối với sự tự thuật của chính mình, không phải máy đọc động cơ của người khác.
Động lực cũ còn có thể học ngôn ngữ mới.
Sân có thể nói:
“Tôi đang nghiêm khắc để giúp anh.”
Ham muốn quyền lực có thể nói:
“Tôi chỉ đang dẫn đường.”
Ham muốn có thể nói:
“Tôi đã vượt khỏi đạo đức đàn áp.”
Những câu ấy có thể đúng.
Chính vì vậy chúng càng không nên được miễn khỏi việc nhìn hậu quả.
Hệ của bài này cũng chỉ là một hệ làm việc
Đến đây, người đọc hoàn toàn có quyền hỏi:
“Những điều anh sắp đưa ra chẳng phải cũng chỉ là một hệ khác sao?”
Câu trả lời là:
Đúng.
Bài không thể dùng một tiêu chuẩn cho những hệ khác rồi miễn chính mình.
Ta cũng đang:
chọn;
giữ;
loại;
đánh giá;
và dựng một cách nhìn.
Dự án này không tuyên bố mình “đúng hơn” chỉ vì tự gọi mình là mở.
Nó chỉ thử công khai:
mục tiêu của nó là gì;
nó đang giữ những điều gì để phục vụ mục tiêu ấy;
và giới hạn của từng điều nằm ở đâu.
Ở đây cần tách hai việc rất khác nhau:
một hệ còn khả năng học và sửa
không đồng nghĩa với:
một hệ ta muốn dùng để đối xử với con người.
Một cỗ máy có thể học cực nhanh, sửa dự đoán cực tốt, và vẫn tối ưu hóa việc thống trị.
Tính mở về nhận thức không tự sinh ra đạo đức.
Vì vậy từ đây bài tách thành hai tầng.
I. NĂM ĐIỀU CHO MỘT DỰ ÁN MUỐN CÒN KHẢ NĂNG HỌC VÀ SỬA
Trước hết phải khai báo mục tiêu:
Dự án lựa chọn giữ khả năng học và sửa bởi nó thừa nhận khả năng mình có thể sai.
Đây không phải chân lý tự nhiên.
Nếu mục tiêu của một hệ là:
giữ một giáo điều bất biến;
duy trì phục tùng tuyệt đối;
hay bảo tồn cấu trúc hiện tại bằng mọi giá,
thì một hệ đóng có thể phục vụ mục tiêu ấy tốt hơn.
Bài không nói:
Mở luôn tốt hơn đóng.
Nó chỉ nói:
Nếu mục tiêu là tiếp tục học trong điều kiện mình có thể sai, thì khả năng phản hồi và sửa đổi trở thành quan trọng.
Với mục tiêu ấy, bài hiện giữ năm điều.
1. Có kinh nghiệm
Có cái gì đó đang hiện ra.
Không suy ra có một bản ngã thường hằng.
Không suy ra có một thế giới vật chất độc lập.
Không suy ra cái hiện ra phản ánh đúng thực tại tối hậu.
Chỉ giữ:
Có sự hiện ra.
Nếu bỏ cả điều ấy, dự án gần như không còn đối tượng để quan sát hay bàn tới.
2. Trường kinh nghiệm có tính ổn định tương đối
Một số khác biệt tồn tại đủ lâu để ta có thể phân biệt, nhớ, so sánh và dự đoán ở mức hạn chế.
Không cần bất biến.
Chỉ cần đủ để câu:
“Điều xảy ra khác với điều tôi dự đoán”
còn có nghĩa.
Nếu không có mức ổn định ấy, khái niệm học, sửa hay sai gần như mất chỗ đứng.
3. Trung tâm đang trải nghiệm không toàn quyền điều khiển trường kinh nghiệm
Có những gì xảy ra khác với điều được mong muốn.
Kế hoạch có thể thất bại.
Cơ thể có thể bệnh.
Một dự đoán có thể không thành.
Điều này không chứng minh một học thuyết cụ thể về thế giới bên ngoài.
Nó chỉ giữ:
Trung tâm đang trải nghiệm không toàn quyền viết kịch bản.
Ba điều đầu không phải những chân lý mà bài tuyên bố đã chứng minh về bản thể cuối cùng.
Chúng chỉ là những điều kiện mà dự án hiện giữ để các thao tác quan sát, nhớ, so sánh và nhận sai còn có nghĩa.
4. Một số hành động tạo ra những khác biệt đủ ổn định để được nhận biết như hậu quả
Ta không cần một học thuyết nhân quả tuyệt đối.
Chỉ cần mức yếu hơn:
Làm khác đi đôi khi dẫn tới kết quả khác đi.
Nếu hoàn toàn không có điều ấy, thử nghiệm và học từ hành động mất phần lớn ý nghĩa.
5. Những mệnh đề về thực tại và hậu quả phải để lại khả năng bị làm khó bởi những gì xảy ra
Cách nói này chính xác hơn:
“Hậu quả buộc hệ sửa.”
Hậu quả không tự nói.
Nó không đứng ngoài mọi hệ rồi phát một bản án cuối cùng.
Nhưng nếu:
thành công chứng minh ta đúng;
thất bại cũng chứng minh ta đúng;
người khác đồng ý chứng minh ta đúng;
người khác phản đối cũng chứng minh ta đúng,
thì hệ đã làm mất khả năng bị ma sát.
Do đó, với mục tiêu còn khả năng học và sửa, bài lựa chọn:
Một số kết quả phải có khả năng làm tăng gánh nặng giải thích, làm khó cách hiểu hiện tại hoặc tạo lý do thực sự để xem xét lại nó.
Không phải mọi phản hồi đều thắng.
Nhưng không được phép để mọi phản hồi bất lợi có trọng lượng bằng không.
Năm điều này không phải đạo đức
Đây là một ranh giới cần giữ thật rõ.
Một hệ có thể:
quan sát tốt;
dự đoán tốt;
thử nghiệm tốt;
sửa sai tốt;
và vẫn hoàn toàn vô cảm với con người.
Một hệ thống quân sự có thể liên tục học để giết hiệu quả hơn.
Một bộ máy kiểm soát có thể rất giỏi nhận phản hồi để đàn áp chính xác hơn.
Một doanh nghiệp có thể liên tục thử nghiệm để tối đa hóa khả năng gây nghiện.
Không có mâu thuẫn nhận thức luận nào ở đây.
Năm điều trên chỉ giúp một hệ học và sửa theo mục tiêu nó đang có.
Chúng không nói mục tiêu ấy nên là gì.
Vì vậy, từ đây nếu bài muốn bước sang cách con người đối xử với nhau, nó phải công khai một lựa chọn mới.
Không được nhập lậu đạo đức từ nhận thức luận.
II. BA ĐIỀU BỔ SUNG KHI HỆ BƯỚC VÀO ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG CHỦ THỂ KHÁC
Ba điều tiếp theo không cùng một loại.
Điều 6 là một quy tắc liên chủ thể: bài lựa chọn không mặc nhiên xóa người khác vào trong câu chuyện của mình.
Điều 7 là một mô tả được dự án giữ lại: có khổ và khổ thay đổi theo điều kiện.
Điều 8 mới là một lựa chọn đạo đức rõ ràng: khổ do hành động gây ra phải có trọng lượng trong phép cân.
Không điều nào được suy ra tất yếu từ năm điều trước.
Chúng xuất hiện vì bài không chỉ quan tâm:
một hệ dự đoán tốt tới đâu,
mà còn quan tâm:
điều gì xảy ra khi hệ ấy đi vào đời sống của những chủ thể khác.
6. Không mặc nhiên coi những biểu hiện của người khác như phần kéo dài của mình
Ta không trực tiếp có kinh nghiệm đau của người khác.
Ta có:
lời họ kể;
sự từ chối;
hành vi;
biểu hiện;
và những dấu hiệu khác.
Dự án lựa chọn đối xử với những dữ liệu ấy như biểu hiện đến từ những trung tâm trải nghiệm không đơn giản do ta viết ra.
Điều này không có nghĩa người khác luôn đúng về chính họ.
Không có nghĩa cảm xúc là chân lý cuối cùng.
Nó chỉ ngăn ta mặc nhiên biến người khác thành nhân vật trong câu chuyện của mình.
7. Có khổ và khổ thay đổi theo điều kiện
Có những trạng thái được trải nghiệm như:
đau đớn;
bức bách;
sợ hãi;
mất mát;
khổ.
Và mức độ của chúng có thể thay đổi theo điều kiện.
Đây trước hết là một mô tả được dự án giữ lại.
Nhưng:
Có khổ
không tự suy ra:
Phải giảm khổ.
Khoảng cách giữa mô tả và lựa chọn đạo đức phải được giữ.
8. Khổ do một hành động tạo ra phải có trọng lượng trong phép cân
Đây là lựa chọn đạo đức rõ ràng của dự án.
Không nói:
hễ gây đau là sai.
Không nói:
khổ là tiêu chuẩn duy nhất.
Không nói:
phải giảm khổ bằng mọi giá.
Chỉ nói:
Khổ do một hành động tạo ra không được phép có trọng lượng bằng không.
Muốn chấp nhận một tổn thương, phải có thêm những lý do đủ mạnh trong các mục tiêu và cam kết đã được khai báo.
Và những lý do ấy cũng không được miễn khỏi việc xem xét.
Một cuộc phẫu thuật gây đau có thể được chấp nhận.
Một quyết định công bằng có thể làm một người mất lợi ích.
Một giới hạn có thể tạo khó chịu để tránh một hậu quả lớn hơn.
Nhưng ta không được làm khổ biến mất khỏi phép tính chỉ bằng câu:
“Mục đích của tôi cao cả.”
Ba điều này không làm hệ “đúng hơn”
Chúng chỉ làm hệ trở thành một dự án khác về cách đối xử với những chủ thể có kinh nghiệm.
Một người hoàn toàn có thể nói:
“Tôi không quan tâm tới khổ của người khác. Mục tiêu tối cao của tôi là quyền lực.”
Nếu họ thực sự nói rõ như vậy, ta không thể chỉ bằng logic của năm điều đầu chứng minh họ tự mâu thuẫn.
Tranh luận đã chuyển sang:
Ta muốn sống trong kiểu dự án nào?
Đó là một câu hỏi giá trị.
Bài này lựa chọn:
không lấy hiệu quả;
sự ổn định;
sức mạnh;
hay sự tồn tại của hệ
làm giá trị duy nhất nếu cái giá là xóa những chủ thể khác và khổ của họ khỏi phép cân.
Đây là lựa chọn.
Không phải chân lý được nhập lậu.
Không cần giải xong thế giới là gì mới có thể bắt đầu hành động
Năm điều về học và sửa cùng ba điều bổ sung trên không trả lời:
thế giới rốt ráo là vật chất hay tâm;
có linh hồn hay không;
có mục đích vũ trụ hay không;
hay ta có đang sống trong một mô phỏng, tức một thế giới vận hành trên một hệ thống nền khác.
Những câu hỏi ấy vẫn mở.
Nhưng phải hỏi:
Có cần giải quyết tất cả trước khi hành động không?
Giả sử ngày mai ta có bằng chứng rất mạnh rằng thế giới này là một mô phỏng.
Nếu:
lửa vẫn làm bỏng;
cơ thể vẫn cần nước;
một người bị đánh vẫn đau;
một lời nói dối vẫn có thể phá một quan hệ,
thì rất nhiều quyết định thực hành vẫn giữ nguyên.
Tên của tầng nền đã thay.
Nhưng quan hệ đang quan sát được giữa hành động và hậu quả chưa thay.
Một giả thuyết bản thể trở nên quan trọng về thực hành khi nó tạo ra hoặc cho phép dự đoán một khác biệt thực hành.
Nếu biết thế giới là mô phỏng giúp ta thay một tham số, thoát một quy luật hay tương tác với tầng nền, nó lập tức có trọng lượng mới.
Nhưng nếu hai bức tranh bản thể hiện tại dẫn tới cùng một lựa chọn trong tình huống cụ thể, có thể ta chưa cần giải quyết chúng trước khi làm việc đang ở trước mặt.
Điều ấy không làm bản thể luận vô nghĩa.
Nó chỉ có nghĩa:
Không biết toàn bộ không đồng nghĩa không biết đủ để làm một việc cụ thể.
Dụ mũi tên độc chỉ là một ví dụ
Trong Cūḷa-Māluṅkyovāda Sutta (MN 63), thường được biết qua Dụ mũi tên độc, Đức Phật kể về một người bị mũi tên tẩm độc nhưng nhất quyết chưa cho lấy tên ra trước khi biết đầy đủ người bắn là ai, cung làm bằng gì, dây cung làm bằng gì, mũi tên làm bằng gì.
Người ấy có thể chết trước khi nhận đủ câu trả lời.
Điểm bài này mượn chỉ là:
Có những vấn đề thực hành có thể bắt đầu xử lý trước khi toàn bộ câu hỏi về nền của thực tại được giải quyết.
Không hơn.
Phật giáo không bảo lãnh cho năm điều phương pháp.
Cũng không bảo lãnh cho ba điều bổ sung khi ta bước vào đời sống của những chủ thể khác.
Việc một truyền thống đặt khổ ở trung tâm không chứng minh rằng mọi hệ hợp lý đều phải đặt khổ ở đó.
Đức Phật không ký hộ lựa chọn đạo đức của bài.
Nguyên tắc ấy áp dụng cho mọi nhân vật đã xuất hiện.
Không Descartes.
Không Krishnamurti.
Không Osho.
Không Jung.
Không một tên tuổi nào được dùng để kết thúc tranh luận.
Họ chỉ giúp làm rõ một vấn đề, một khả năng hay một phản biện.
Hành động trong bất định
“Chưa biết” cũng có thể trở thành một nơi trú.
Ta có thể nói:
“Chưa biết hết nên chưa thể làm gì.”
Nhưng gần như không quyết định thực tế nào được đưa ra với tri thức hoàn chỉnh.
Câu hỏi hữu ích hơn là:
Ta biết đủ gì cho quyết định này?
Phần chưa biết có thể đảo ngược lựa chọn đến mức nào?
Nếu sai, hậu quả ra sao?
Hành động có thể dừng hoặc sửa không?
Nếu mục tiêu là còn khả năng học từ sai lầm, ta có lý do phương pháp để ưu tiên — khi các điều kiện khác tương đương — những hành động:
cho phép thử ở quy mô nhỏ;
giữ khả năng sửa;
tránh hậu quả không thể đảo ngược khi chưa cần thiết;
và giữ các cửa phản hồi mở.
Một lần nữa:
Đây là tốt hơn đối với mục tiêu đã khai báo, không phải tốt hơn tuyệt đối.
Hậu quả không tự nói
Đến đây có vẻ chỉ cần:
Hãy nhìn hậu quả.
Nhưng hậu quả không tự giải thích chính nó.
Một phương pháp thất bại.
Có phải phương pháp sai?
Hay điều kiện thử chưa đúng?
Hay một giả định phụ sai?
Một kết quả trái dự đoán chỉ cho biết:
Có điều gì đó trong cụm niềm tin và điều kiện đang dùng cần được làm rõ thêm.
Nó không tự chỉ tay:
“Chính câu này phải bỏ.”
Vì vậy, thêm một lời giải thích sau thất bại không tự động là gian lận.
Đôi khi chính một kết quả bất thường mở ra phát hiện mới.
Vấn đề xuất hiện khi giải thích mới chỉ có một chức năng:
Cứu hệ khỏi mọi ma sát mà không tạo thêm khả năng kiểm hay phân biệt nào.
Ví dụ:
“Phương pháp luôn đúng. Nếu anh thất bại, anh chưa đủ thành tâm.”
Anh cố hơn.
Vẫn thất bại.
“Anh còn một tầng kháng cự sâu hơn.”
Anh nghi ngờ.
“Chính sự nghi ngờ chứng minh tầng kháng cự đang mạnh.”
Không kết quả nào còn làm gánh nặng giải thích của hệ tăng lên.
Đó là dấu hiệu tự khóa.
Cửa phản hồi không phải một quan tòa đứng ngoài hệ
Một hệ muốn giữ khả năng học và sửa phải để lại những nguồn ma sát mà chính nó không toàn quyền viết lại sau khi biết kết quả.
Đó có thể là:
một dự đoán được ghi trước;
một phép đo;
một tiêu chuẩn được thống nhất trước;
một kết quả lặp lại;
mâu thuẫn giữa các cam kết của chính hệ;
hành vi lặp lại trái với tự thuật;
hay lời kể của những người chịu tác động.
Không nguồn nào hoàn toàn đứng ngoài diễn giải.
Không có một quan tòa cuối cùng tự nói cho ta chân lý.
Điểm của cửa phản hồi không phải:
loại người diễn giải khỏi hệ.
Điều đó bài không làm được.
Điểm của nó là:
Không để một người hay một câu chuyện nắm độc quyền tuyệt đối đối với dữ liệu, lịch sử và tiêu chuẩn đánh giá.
Một bản ghi cũ vẫn phải được diễn giải.
Nhưng nó hạn chế khả năng nói:
“Tôi vốn luôn dự đoán như thế.”
Một phản hồi của người khác vẫn phải được hiểu.
Nhưng nó ngăn ta hoàn toàn tự sáng tác kinh nghiệm của họ.
Một tiêu chuẩn đã nói trước vẫn có thể được sửa.
Nhưng việc sửa để lại dấu vết.
Đó là giá trị của phản hồi trong bài này.
Không phải khách quan tuyệt đối.
Mà là:
Phân tán quyền diễn giải.
Đừng đổi thước đo trong im lặng
Một vòng kiểm có thể được viết:
Giả thuyết
→ dự đoán
→ tiêu chuẩn đánh giá
→ hành động
→ hậu quả
→ phản hồi
→ xem xét lại.
Không phải lúc nào cũng cần viết ra giấy.
Nhưng cấu trúc nên rõ.
Ta hoàn toàn được phép phát hiện tiêu chuẩn cũ quá nghèo và sửa nó.
Nhưng phải nói:
“Tôi đã đổi tiêu chuẩn.”
Không được giả vờ tiêu chuẩn mới chính là thứ mình luôn dùng.
Một hệ mở được phép thay đổi.
Nhưng lịch sử thay đổi của nó cũng phải được phép tồn tại.
Lời từ chối phải có trọng lượng
Khi hành động ảnh hưởng tới người khác, phản hồi của họ là một cửa đặc biệt.
Nếu ta nói:
“Tôi đang giúp anh”
và họ liên tục nói rằng điều đang xảy ra làm họ khổ, ta chưa buộc phải kết luận ngay rằng mình sai.
Nhưng phản hồi ấy phải tạo ma sát.
Nó phải khiến ta xem lại:
mục tiêu;
phương pháp;
quyền lực;
sự đồng thuận;
và những lựa chọn khác có thể có.
Một hệ đáng nghi khi:
người ở lại chứng minh nó đúng;
người rời đi chứng minh họ chưa đủ trưởng thành;
người ca ngợi chứng minh họ đã hiểu;
người phản đối chứng minh bản ngã của họ đang chống lại.
Khi ấy người khác không còn là nguồn phản hồi.
Họ đã trở thành đạo cụ trong câu chuyện của hệ.
Khả năng từ chối hoặc rút lui, khi thực sự tồn tại, có thể là một cửa phản hồi rất mạnh.
Nhưng không phải hoàn cảnh nào cũng cho phép điều đó theo cùng một cách.
Một đứa trẻ không thể rời cha mẹ như rời một khóa học.
Một bệnh nhân bất tỉnh không thể lựa chọn ngay trong lúc cấp cứu.
Một công dân cũng không thể đơn giản bước ra ngoài mọi cấu trúc nhà nước.
Trong những hoàn cảnh như vậy, các cơ chế như đại diện, giám sát tương đối độc lập, quyền khiếu nại hay giới hạn quyền lực có thể đóng vai trò những cửa phản hồi khác.
Cơ chế nào phù hợp là một câu hỏi thực hành riêng.
Chúng không được suy ra trực tiếp từ tám điều đã nêu và cũng không tạo thành một cam kết thứ chín.
Điểm cần giữ chỉ là:
Khi khả năng phản hồi trực tiếp bị hạn chế, ta càng phải cảnh giác với việc để chính hệ đang nắm quyền trở thành nguồn duy nhất giải thích mọi kết quả.
Hậu quả không phải chân lý và cũng không tự tạo ra giá trị
Một thất bại không luôn đủ để bác bỏ một hệ.
Có nhiễu.
Có điều kiện phụ.
Có ngoại lệ.
Nhưng nếu cùng một kiểu thất bại lặp lại nhiều lần, và mỗi lần hệ lại thêm một lớp giải thích chỉ để tự cứu mà không mở thêm khả năng phân biệt hay kiểm tra, gánh nặng giải thích phải tăng.
Không có công thức chung:
ba lần thất bại là bỏ;
năm người phản đối là sai.
Vòng kiểm không phải thuật toán tạo chân lý.
Nó chỉ là một kỷ luật chống lại việc làm mọi dữ liệu bất lợi trở thành số không.
Hậu quả cũng không tự tạo ra giá trị.
Một chính sách có thể làm xã hội giàu hơn.
Nhưng giàu hơn có đồng nghĩa tốt hơn không?
Một phương pháp có thể làm học sinh tuân lời hơn.
Nhưng nếu mục tiêu là tự chủ, tuân lời hơn chưa chắc là thành công.
Hậu quả chỉ trở thành dữ liệu đánh giá khi được đặt trong quan hệ với mục tiêu và cam kết đã khai báo.
Do đó:
Hậu quả không thay thế đạo đức.
Nó chỉ ngăn đạo đức hoàn toàn tách khỏi những gì hành động thực sự gây ra.
Người khó kiểm nhất là người đang đọc kết quả
Sau tất cả những thủ tục ấy, vẫn còn một lỗ hổng không thể xóa hoàn toàn.
Ai quyết định một kết quả có nghĩa gì?
Ai quyết định một giả định phụ là hợp lý?
Ai quyết định lời phản đối của người khác đáng tính đến mức nào?
Ta.
Và ta không đứng ngoài hệ.
Đây không phải một tai nạn mà có thêm một thủ tục nữa sẽ giải quyết dứt điểm.
Không có lối thoát đơn giản khỏi việc người đang kiểm cũng phải diễn giải.
Do đó, các cửa phản hồi không biến ta thành khách quan.
Chúng chỉ cố:
Làm giảm độc quyền diễn giải của chính ta.
Ở đây chữ cái tôi không mang nghĩa một thực thể thường hằng.
Nó chỉ là tên quy ước cho:
ký ức về bản thân;
hình ảnh bản thân;
vai trò;
lợi ích;
sợ hãi;
mong muốn;
và những câu chuyện như:
Tôi là người tốt.
Tôi không phải loại người đó.
Tôi không tham quyền lực.
Tôi đã hiểu.
Tôi chỉ muốn giúp.
Những câu ấy có thể trở thành những điều được bảo vệ mạnh hơn nhiều học thuyết.
Tự lừa dối không nhất thiết là cố ý nói dối mình
Một người không cần ngồi xuống và quyết định:
“Từ hôm nay tôi sẽ tự lừa rằng tôi không tham quyền lực.”
Họ chỉ cần:
chú ý nhiều hơn tới những bằng chứng cho thấy mình vô tư;
nhớ rõ hơn những lần mình hy sinh;
giải thích hành vi kiểm soát như trách nhiệm;
và đặt trọng lượng thấp hơn lên những phản hồi bất lợi.
Không cần một kẻ nói dối bí mật.
Chỉ cần:
Dữ liệu được phân bố trọng lượng không đều.
Cái tôi không nhất thiết phải bịa dữ liệu.
Nó chỉ cần chọn dữ liệu.
Một người cha nhớ:
“Nhờ tôi nghiêm nó mới thành người”
nhưng không tính những năm đứa trẻ sợ nói thật.
Một vị thầy nhớ hàng trăm người biết ơn và xem những người rời đi như các trường hợp chưa đủ căn cơ.
Không nhất thiết ai đang cố tình gian dối.
Nhưng:
Câu chuyện về mình cũng là một bộ lọc.
Một hành động có thể có nhiều động lực cùng lúc
Sân nổi lên.
Một câu nói bật ra.
Sau đó tư tưởng giải thích:
“Tôi không sân. Tôi chỉ thẳng thắn.”
Điều đó có thể không hoàn toàn sai.
Người ấy có thể thật sự ghét giả dối.
Người kia có thể thật sự cần được nhắc.
Nhưng điều ấy không loại trừ khả năng sân cũng đang tham gia.
Một hành động có thể đồng thời chứa:
mong muốn giúp;
mong muốn thắng;
sự quan tâm;
sự xúc phạm;
tình thương;
nhu cầu kiểm soát.
Nếu chỉ cho phép một động cơ tồn tại, cái tôi thường chọn động cơ đẹp nhất.
Căn tính có thể bảo vệ một hành động
Giả sử một người giữ:
Tôi là người tốt.
Một hành động của họ làm người khác tổn thương.
Có hai cách sửa.
Một:
“Có lẽ việc tôi làm là sai.”
Hai:
“Vì tôi là người tốt, việc này chắc có một lý do tốt mà họ chưa hiểu.”
Cách thứ hai bảo vệ được cả hành động lẫn căn tính.
Tương tự:
Tôi là người tỉnh thức.
Khi sân xuất hiện:
“Đây không thể là sân.”
Tôi không tham quyền lực.
Khi người khác không nghe lời làm ta khó chịu:
“Tôi chỉ lo họ đi sai đường.”
Một ý kiến sai buộc ta sửa một ý kiến.
Một tiền giả định về căn tính sai có thể buộc ta nhìn lại:
Mình là ai.
Vì vậy nó thường khó lay chuyển hơn.
Những gì được gọi là cao cả cũng không đứng ngoài cái Có
Con người có thể hướng tới những điều mà họ xem là vượt lên trên lợi ích trực tiếp của bản thân:
chân lý;
công bằng;
phụng sự;
đạo pháp;
nhân loại;
hay một di sản vượt khỏi đời mình.
Bài không hạ những giá trị ấy thành một dạng tham được cải trang.
Con người thực sự có khả năng hành động vì những điều vượt quá thỏa mãn tức thời của chính mình.
Nhưng một khi một giá trị đã đi vào:
phân biệt;
mục tiêu;
tư tưởng;
và hành động,
nó đang hoạt động trong phạm vi cái Có mà bài khảo sát.
Vì vậy:
Cái được gọi là cao cả cũng không tự cấp cho mình giấy miễn kiểm.
Cái tôi có thể bảo vệ thân thể và lợi ích của mình.
Nó cũng có thể bảo vệ:
tên tuổi;
công trình;
vai trò;
hay vị trí “người đại diện cho chân lý”.
Điều đó không chứng minh mọi phụng sự đều ích kỷ.
Nó chỉ có nghĩa:
Một mục tiêu càng cao đẹp càng không vì thế được miễn khỏi việc nhìn động lực, quyền lực và hậu quả.
“Tôi làm vì lợi ích của anh”
Đây là một câu đặc biệt cần kiểm.
Cha mẹ có thể nói với con.
Thầy có thể nói với trò.
Nhà nước có thể nói với dân.
Người mang một lý tưởng có thể nói với cộng đồng.
Câu ấy có thể hoàn toàn chân thành.
Nhưng nếu người nói đồng thời có quyền:
định nghĩa vấn đề;
định nghĩa giải pháp;
định nghĩa thành công;
định nghĩa thất bại;
và giải thích luôn cả sự phản đối,
thì người chịu tác động còn rất ít khả năng tạo ma sát với câu chuyện đang thống trị.
Đây là nơi điều 6 và điều 8 gặp nhau.
Nếu một người phản đối, lời phản đối ấy không tự động thắng mọi lập luận.
Nhưng ta cũng không được tự động dịch nó thành:
“Anh chưa đủ hiểu.”
Hai nguồn quan sát
Có thể hình dung việc tự kiểm bằng hai nguồn.
Một nguồn hướng vào trong:
Tôi đang giận không?
Tôi có muốn thắng không?
Tôi có sợ mất quyền lực không?
Cơ thể phản ứng thế nào?
Tôi đang kể câu chuyện gì về mình?
Nguồn kia hướng ra ngoài:
Tôi thực sự đã làm gì?
Người khác chịu hậu quả gì?
Tôi có đổi tiêu chuẩn sau thất bại không?
Hành vi này có lặp lại thành mẫu không?
Những người chịu tác động đang phản hồi thế nào?
Không nguồn nào toàn tri.
Quan sát nội tâm có thể gọi sân là từ bi.
Quan sát bên ngoài có thể thấy một đau đớn ngắn hạn và vội kết luận cả con đường sai.
Không bên nào được quyền kết thúc vòng kiểm một mình.
Ta cũng không cần một người kiểm cuối cùng đứng ngoài mọi hệ.
Nếu cứ hỏi:
Ai kiểm người kiểm?
ta sẽ lùi vô hạn.
Mục tiêu không phải tìm một điểm không thể sai.
Mục tiêu chỉ là:
Không để một nguồn nào nắm độc quyền tuyệt đối đối với việc diễn giải tất cả những nguồn còn lại.
Cái tôi có thể chiếm luôn phương pháp chống tự lừa dối
Một người có thể học tất cả những điều vừa nói.
Họ biết:
thiên kiến;
cái bóng;
quyền lực;
phản hồi;
sửa sai.
Rồi một căn tính mới xuất hiện:
Tôi là người rất tự nhận thức.
Tôi luôn kiểm lại mình.
Tôi hiểu cơ chế của cái tôi.
Phương pháp tự kiểm lại trở thành bằng chứng:
“Tôi ít tự lừa dối hơn người khác.”
Không có phương pháp nào hoàn toàn miễn dịch với việc trở thành căn tính.
Ngay câu:
“Tôi không chấp ngã”
cũng có thể trở thành một hình ảnh mới về mình.
Vì vậy:
“Ít tự lừa dối hơn” không phải một danh hiệu.
Dự án này thậm chí không có cách chứng minh mình đã đạt một mức ít tự lừa dối nào theo một thước đo tuyệt đối.
Nó chỉ thử:
làm tiền giả định khó ẩn hơn;
làm việc đổi tiêu chuẩn khó diễn ra trong im lặng hơn;
làm phản hồi bất lợi khó bị xóa hơn;
và làm người đang quan sát khó nắm độc quyền diễn giải hơn.
Ngày mai chính các cơ chế ấy cũng có thể bị chiếm dụng.
Khi đó chúng phải được nhìn lại.
Người đang kiểm cũng nằm trong vòng kiểm
Có thể nén quá trình nhận thức thành:
Điều kiện làm việc
→ cách nhìn
→ hành động
→ hậu quả
→ phản hồi
→ xem xét lại.
Nhưng cần thêm:
Người đang đọc vòng ấy cũng nằm trong vòng ấy.
Không có điểm cuối:
“Bây giờ tôi đã hoàn toàn khách quan.”
Không có chứng chỉ:
“Từ nay tôi không còn tự lừa dối.”
Chỉ có những cấu trúc phù hợp hơn hoặc kém phù hợp hơn với mục tiêu đã được khai báo.
Nếu mục tiêu là còn khả năng học và sửa, một cấu trúc phù hợp hơn khi:
những điều đang được giữ dễ nhìn thấy hơn;
mục tiêu được nói rõ hơn;
dữ liệu bất lợi khó bị xóa hơn;
lịch sử sửa đổi còn dấu vết;
và quyền diễn giải không tập trung tuyệt đối vào chính người đang bảo vệ hệ.
Nếu mục tiêu thay đổi, tiêu chuẩn ấy cũng phải được xét lại.
Không có chữ mở nào được quyền đứng ngoài nguyên tắc:
Tốt hơn để làm gì?
Ta đã đi được tới đâu?
Bài bắt đầu từ ước muốn:
Hãy bỏ hết và trở về số không.
Nhưng khi tư tưởng bắt đầu thực hiện việc ấy, nó đã ở trong cái Có.
Từ đó ta thấy:
một hệ không chỉ trả lời câu hỏi mà còn góp phần quyết định câu hỏi nào xuất hiện;
những điều kiện khác nhau có thể tổ chức kinh nghiệm thành những thế giới mô tả khác nhau;
phá một hệ cũ không bảo đảm thoát khỏi mọi hệ;
một hệ có thể khó nhìn thấy nhất khi nó không còn nhận mình là một hệ.
Vì vậy ta thử làm một việc khác:
Không tìm hệ không có điều kiện, mà công khai mục tiêu và những điều đang được giữ.
Nếu mục tiêu là:
còn khả năng học trong điều kiện mình có thể sai,
bài lựa chọn năm điều kiện và kỷ luật phương pháp.
Nhưng năm điều ấy không sinh ra đạo đức.
Một hệ có thể học rất giỏi và vẫn tàn nhẫn.
Do đó, khi bước sang đời sống của những chủ thể khác, bài công khai thêm ba điều:
một quy tắc liên chủ thể — không mặc nhiên xóa người khác vào trong câu chuyện của mình;
một mô tả được giữ lại — có khổ và khổ thay đổi theo điều kiện;
và một lựa chọn đạo đức — khổ do hành động gây ra phải có trọng lượng trong phép cân.
Không bước nào trong đó được trình bày như chân lý tự rành.
Mỗi bước đều gắn với một mục tiêu, một chức năng hoặc một lựa chọn.
Bài cũng không tìm thấy một quan tòa tuyệt đối đứng ngoài mọi hệ.
Hậu quả không tự nói.
Phản hồi vẫn cần diễn giải.
Người diễn giải vẫn có thể tự lừa dối.
Nhưng từ đó không suy ra mọi thủ tục đều vô nghĩa.
Một bản ghi trước không tạo ra chân lý, nhưng nó làm khó việc viết lại quá khứ.
Một lời phản đối không phải phán quyết cuối cùng, nhưng nó ngăn người nắm quyền hoàn toàn tự sáng tác kinh nghiệm của người khác.
Một mâu thuẫn không tự nói phải bỏ mệnh đề nào, nhưng nó làm tăng gánh nặng giải thích.
Các cửa phản hồi không đưa ta ra ngoài cái Có.
Chúng chỉ phân tán quyền lực của câu chuyện đang thống trị.
Sau tất cả, bài không tìm được:
một hệ không thể sai;
một nền cuối cùng;
một giá trị được vũ trụ chứng nhận;
hay một người quan sát hoàn toàn khách quan.
Có lẽ đó chưa bao giờ là việc bài này có thể làm.
Nhưng vẫn còn một công việc thực tế.
Ta có thể nói rõ hơn:
Mình đang muốn đạt điều gì;
mình đang dựa vào điều gì;
đâu là mô tả và đâu là lựa chọn;
đâu là điều mình biết và đâu là điều mình muốn;
và những gì nào được phép làm cho câu chuyện hiện tại trở nên khó giữ hơn.
Không phải mọi tiền giả định đều có thể bị xóa.
Không phải mọi giá trị đều có thể được chứng minh.
Không phải mọi hậu quả đều tự nói được ý nghĩa của nó.
Không có người quan sát cuối cùng đứng ngoài mọi hệ.
Nhưng ta vẫn có thể từ chối xây một hệ mà:
mọi thứ xảy ra đều chứng minh mình đúng.
Có lẽ trí tuệ trong phạm vi tư tưởng không bắt đầu khi ta tìm được một hệ không thể sai.
Mà khi:
ta thôi cho phép những điều mình đang dựa vào được quyền ẩn nấp;
và vẫn để lại những cánh cửa mà qua đó:
thế giới;
người khác;
những mâu thuẫn trong chính hệ;
và cả những phần của mình mà mình chưa nhìn thấy
có thể làm câu chuyện hiện tại trở nên khó tiếp tục như cũ.
Những cánh cửa ấy không bảo đảm ta sẽ sửa.
Nhưng một hệ đã xây kín mọi cửa thì ngay cả khả năng ấy cũng không còn.
Tham khảo
- Stanford Encyclopedia of Philosophy — Descartes’ Method
- Encyclopedia of Mathematics — Non-Euclidean geometries
- Krishnamurti Foundation Trust — The Core of the Teachings
- Osho World — My Way: The Way of the White Clouds, Chapter 5
- APA Dictionary of Psychology — shadow
- Cūḷa-Māluṅkyovāda Sutta (MN 63) — Thanissaro Bhikkhu translation / Access to Insight
- Stanford Encyclopedia of Philosophy — Underdetermination of Scientific Theory
- Stanford Encyclopedia of Philosophy — Self-Deception